(Đọc bài thơ Hạt Cát của Phạm Phát)

Vào một đêm tĩnh lặng, tôi đọc lại bài thơ “Hạt cát của mẹ” của anh Phạm Phát, bài thơ này tác giả dành “Kính tặng Mẹ Việt Nam anh hùng Thành phố Đà Nẵng”:

“Mẹ tự nhen mình lên
Chỉ được một đóm lửa cho những đêm lạnh
Mẹ tự vắt mình ra
Chỉ được một giọt nước cho những cơn khát

Mùa mẹ chỉ một hạt
Vườn mẹ chỉ một hoa
Mẹ trồng cây gậy
Đỡ cho tuổi già

Nay thì chẳng còn
Đóm lửa của mẹ
Giọt nước của mẹ
Cây gậy của mẹ

Được phong anh hùng
Mẹ chỉ nói
Cả nước hy sinh
Nhà nào chẳng mất mát
Phần tôi: Một hạt cát!”

Bà mẹ Việt Nam anh hùng là đề tài quen thuộc của thơ; đức tính chịu đựng, hy sinh của người mẹ cũng là một nguồn cảm hứng của văn học lâu nay. Bài thơ “hạt cát của mẹ” của anh Phạm Phát cũng từ những điều tưởng như quen thuộc, gần gũi ấy lại nói lên được những cái kỳ diệu, cái cao cả bằng một góc nhìn tinh tế, với một bút pháp cô đọng, tạo hình khối ấn tượng như điêu khắc.

Bài thơ viết về một người mẹ có một người con duy nhất đã hy sinh cho đất nước và mẹ được phong anh hùng. Có 2 nhân vật trữ tình quấn quít suốt 17 câu thơ, đó là người mẹ và người con. Người con ấy được sinh ra không bình thường như những người con khác. Nếu có chồng, có vợ và người vợ với thiên chức phụ nữ sẽ sinh con là chuyện bình thường, nhưng người mẹ trong bài thơ của anh Phạm Phát không có diễm phúc như vậy. Để có một đứa con mẹ đã “tự nhen mình lên”, “tự vắt mình ra” trong đớn đau cô độc để mong tìm nguồn hạnh phúc, tìm nơi nương cậy lúc xế bóng cuộc đời như lẽ tự nhiên “bé cậy cha, già cậy con”; đứa con ấy là niềm hy vọng, là hạnh phúc của mẹ. Tự nhen mình lên để sưởi ấm, tự vắt mình ra để tìm giọt nước là hình ảnh bi hùng ngay từ đầu bài thơ, khắc họa một người phụ nữ đang sống trong một hoàn cảnh cực kỳ khắc nghiệt đã dũng cảm chống lại số phận, chống lại thân phận gieo neo để tìm cho mình nguồn sống.

Bài thơ viết về người con hy sinh và tình cảm người mẹ dành cho con, nhưng trong suốt bài thơ tác giả 9 lần nhắc lại chữ “Mẹ”, nhưng không có chữ “Con” nào! Hình như tác giả không dám nhắc đến nỗi đau trong đáy lòng mẹ, cũng có thể người con ấy không chỉ là người con mà đã hóa thành hình ảnh thiêng liêng, thành biểu tượng sống trong cuộc đời mẹ, trong cỏ cây sông núi quê nhà! Đối với mẹ, người con ấy là đốm lửa cho những đêm lạnh, là giọt nước cho những cơn khát, là một hạt của mùa mẹ, là một hoa trong vườn mẹ, là cậy gậy trong tay mẹ tuổi già…
Hai khổ thơ đầu tác giả tập trung phác thảo cả một bầu trời hy vọng hạnh phúc trong tầm tay của mẹ, đến khổ thơ thứ ba chỉ 4 câu thơ với 16 âm tiết tác giả đã diễn tả được nỗi đau tột cùng của đời mẹ, nỗi đau như lặn sâu vào bên trong: “Nay thì chẳng còn/ Đóm lửa của mẹ/ Giọt nước của mẹ/ Cây gậy của mẹ”. Nay thì chẳng còn câu thơ bình dị như lời độc thoại, nhưng đã dựng cả bài thơ lên thành hai mái: mái bên nay là niềm hạnh phúc, mái bên kia lã nỗi đau thương. Hai mái ấy tạo thành ngôi nhà của người mẹ anh hùng.

Tác giả xây dựng ngôi nhà của mẹ ở trên một vùng đất cao. ở đấy mẹ đã nhìn thấy nỗi đau riêng và nỗi đau chung, thấy hạnh phúc riêng của mỗi người và hạnh phúc chung của dân tộc. Từ tầm nhìn ấy, “hạt cát của mẹ” trong vô vàn hạt cát đã long lanh sắc màu của Lửa, của Nước, tiếp nối tình cảm cao đẹp của Người Mẹ Việt Nam:

Được phong anh hùng
Mẹ chỉ nói
Cả nước hy sinh
Nhà nào chẳng mất mát
Phần tôi: Một hạt cát!

Hạt- cát của mẹ thật bi thương, hạt- cát của mẹ thật hùng tráng! Từ những hạt cát ấy hoa trái Tổ Quốc lên xanh…

Nguyễn Nho Khiêm