Trong những ngày đầu xuân này, nhà xuất bản Quân đội nhân dân vừa cho ra mắt bạn đọc tập trường ca và thơ “Thưa mẹ phía trăng lên” của Lê Anh Dũng, gồm 1 trường ca viết về người mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ và 31 bài thơ viết về người lính, quê hương và tình yêu của anh.

Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, năm nay đã 98 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn, quê xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mẹ Thứ có cuộc sống bình dị như bao người mẹ nông thôn Việt Nam khác, nhưng cuộc đời mẹ làm xao động tất cả chúng ta bởi mẹ có đến 9 người con ruột, l con rể và 1 cháu ngoại hy sinh trong hai cuộc kháng chiến vừa qua. Mẹ Thứ là người mẹ Việt Nam điển hình về sự hy sinh, chịu đựng, can trường cho đất nước trong những năm tháng khói lửa đạn bom. Mẹ Thứ đã trở thành nhân vật trữ tình trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật những năm gần đây. Hình ảnh đau thương và anh hùng của mẹ được các nhà điêu khắc, các nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo trong cả nước khai thác và sáng tạo nhiều tác phẩm đẹp, hùng tráng.

Trường ca “Thưa mẹ” của Lê Anh Dũng viết về mẹ Thứ với những hình ảnh hết sức gần gũi, giản dị, và từ những điều giản dị ấy đã bật lên cái phi thường: “Có ai biết có ai ngờ / dưới bờ tre, chuồng heo nhà mẹ / là những hầm bí mật / trong vườn hoang, buồng kín nhà mẹ / là hầm dài nuôi dấu thương binh…”. Chiến tranh giờ đã lùi xa, nhưng làm sao ai có thể quên hình ảnh người mẹ quê dõi theo từng bước chân của đàn con cách mạng: “Ngọn đèn hột vịt/ tắt-đỏ đêm đêm bạc trắng mái đầu / cho anh em đằng mình đi dọc lách ngang / cho cán bộ họp bàn phương án / cờ Mặt trận, cờ búa liềm, truyền đơn cách mạng / từ những căn hầm của mẹ bật lên”.

Ở nước ta Mẹ Thứ là người có nhiều con hy sinh nhất trong 2 cuộc chiến tranh vừa qua. Tôi không biết trên thế giới này, trong tất cả các cuộc chiến tranh của nhân loại xưa nay có bà mẹ nào có nhiều con cháu hy sinh như mẹ Thứ không? Nhà thơ Lê Anh Dũng xây dựng khá thành công nhân vật mẹ Thứ với những chi tiết chân thật, cụ thể nêu bật được tính cách người mẹ Quảng Nam vừa có tính khái quát về một người mẹ Việt Nam giàu lòng hy sinh, yêu thương nồng hậu nhưng cũng hết mực can trường: “Những chiếc nồi bảy, nồi ba / nuôi bầy con lớn khôn / nuôi tiểu đoàn Phan Thanh / diệt đoàn xe công-voa giặc Tây nơi Gò Phật /…đẩy lùi cả tiểu đoàn Mỹ-ngụy ác ôn / từng nuôi… ”.
Trong trường ca “Thưa mẹ”, nhiều đoạn anh miêu tả nhiều chi tiết rất thực gây xúc cảm cho người đọc và làm nổi bật tầm vóc lớn lao của mẹ Thứ: “Các con mẹ / Tự Xiến, Hàn Anh, Hàn Em, Tự Lem / hy sinh thời đánh Tây / Tự Chuyển, Tự Nự, Tự Cẩn, Thịnh, Trịnh / hy sinh thời đánh Mỹ / Tự Chuyển con trai đầu / ngã xuống lúc chín giờ ba mười một ngày tháng Tư năm Bảy Lăm / Hai Trị chị cả / Mỹ bắn gãy chân ngồi tù/ trước gánh tang chồng/ sau gánh tang con”. Câu thơ giản dị như lời kể chuyện. Đọc trường ca “Thưa mẹ” chúng ta như được trở về vùng quê của Mẹ một thời chiến tranh khốc liệt , được gặp những nhân chứng lịch sử của quê hương đất Quảng anh hùng, được chiêm nghiệm cái cao cả trong cái bình dị chân chất.

Trong trường ca Lê Anh Dũng thường trích dẫn ca dao, những bài hát ru con để diễn tả rõ hơn về vùng đất, con người Thanh Quýt, Điện Thắng; nhiều khi anh mượn câu hát ru để nói hộ tình cảm của mẹ: “Con ơi con théc cho muồi / để mẹ gánh nước tưới mười vồng lang / để mẹ trồng bí lợp giàn / giúp anh vệ quốc đánh tan giặc thù”. Đất và người Điện Bàn – quê hương mẹ Thứ – trong quá khứ được phản chiếu khá đậm nét trong văn nghệ dân gian. Đọc trường ca về mẹ Thứ, toát lên truyền thống lịch sử, văn hóa của một vùng đất đậm đà như muối, nồng ấm như lửa: “Đói lòng ăn một trái sung / còn hơn ở trại tập trung An Hòa / ta về ta ở nhà ta / ôm cây cột cháy cũng là danh thơm”. Nhiều đoạn trong trường ca, Lê Anh Dũng viết như là ca dao, đó là lúc mẹ Thứ đã 98 tuổi vẫn thanh thản ngồi ngoáy trầu cất lời ru con như ru nỗi nhớ đời mình: “Con hời con hỡi hời con / bây giờ xong việc nước non con nằm / đời mẹ đã gần trăm năm / đời con son trẻ trăng rằm sáng gương / mẹ thương mẹ thương mẹ thương / ru con mắt mẹ khói hương nhập nhòa”.

Ngôn ngữ trường ca tác giả thể hiện rất chân quê, dễ hiểu, gọn chắc, cô đọng mà không khô khan. Xuyên suốt trong trường ca là hình tượng một người mẹ tảo tần thương chồng, thương con, sống chết với quê hương; kiên quyết trụ bám trong vùng chiến tranh khốc liệt để giữ làng, giữ quê, nuôi đàn con đi làm cách mạng. Hy sinh của mẹ cho đất nước vô bờ bến, nỗi đau mất mát của mẹ cũng vô bờ bến, nhưng mẹ không một lời đòi hỏi, so sánh thiệt hơn: “ Văng vẳng bên tai chúng con lời mẹ sắt son: / Chín con trai mẹ hy sinh / nhưng nước nhà độc lập / …công lao mẹ một giọt nước / mùa mưa…”- đó cũng là phẩm chất anh hùng của mẹ Thứ như bao bà mẹ vô danh khác, đẹp như ngọn cỏ xanh trên cánh đồng quê.
Nguyễn Nho Khiêm