(Đọc tập thơ “Nói hộ phù du” của Nguyễn Hàn Chung,
NXB Đà Nẵng 2002)

Năm nay Nguyễn Hàn Chung vừa bước qua tuổi Ngũ thập và cho ra mắt bạn đọc tập thơ Nói hộ phù du – đây là tập thơ thứ hai của anh sau tập Tìm tôi trong bóng, NXB Đà Nẵng xuất bản năm 1999. Nguyễn Hàn Chung hiện là giáo viên dạy văn ngay chính trên quê mình tại xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Từ mảnh đất nông thôn Điện Bàn đã nuôi dưỡng trong anh nguồn cảm xúc dồi dào trong từng tứ thơ, được bạn đọc chú ý trong những năm gần đây.

Thơ Nguyễn Hàn Chung thường thể hiện tư tưởng, tình cảm thông qua việc xây dựng nhân vật trữ tình và miêu tả tinh tế, chân xác hành động, tâm lý của nhận vật. Bố cục nhiều bài thơ như truyện, như kịch: có cốt truyện, có kịch tính… nhưng vẫn đậm đà chất thơ. Đó chính là điểm mạnh của thơ Hàn Chung, tạo nên bút pháp riêng, một tiếng nói riêng cho thơ.

“Cõng bố về quê” là một bài thơ gây xúc động người đọc nhờ tác giả đặt “nhân vật trữ tình” của bài thơ vào hoàn cảnh nghiệt ngã: người con tìm được hài cốt bố trong rừng và đã cõng bố về với bao nỗi niềm “Ngày xưa bố cõng con chơi/ Chân con kẹp cổ miệng cười ríu ran…/Bây giờ cõng bố trên lưng/ Là con cõng cả núi rừng bố ơi”. Người con và hài cốt bố trên lưng khi thì độc thoại, khi thì đối thoại đã toát lên tình cảm thiêng liêng của bố và con, qua đó hình ảnh người bố hiện lên thật đẹp trong những ngày còn sống cũng như lúc hy sinh. Thật hạnh phúc khi tìm được nơi bồ nằm và cõng bố về quê: “Nâng niu còn chút tro xanh/ Bố cho con hưởng mối tình phụ thân”, bởi còn bao người con cũng đi tìm bố như anh giữa cánh rừng kia nhưng lòng đất vĩnh viễn không chút hồi âm: “Rừng chiều cuối vạt lau thưa/ Có người gói ghém nắng mưa cõng về”.

Nhân vật Cô giào làng trong bài thơ cùng tên có những chi tiết lạ: “Không làm ruộng lại chọn quê/ Mùa không hái gặt vẫn nghe tiếng đồng/…Không làm ruộng cũng lo toan/ Mỗi khi lúa trổ lũ tràn về nhanh”. Cô giáo thành phố về nông thôn, sống ở nông thôn là chuyện không mới, cái độc đáo của bài thơ là miêu tả thành công tâm hồn một cô giáo không chỉ hết lòng trên bục giảng mà còn có tấm lòng yêu thương cuộc sống chung quanh với bao thân phận buồn vui: “Bầy chim mót lúa bên sông/ Đánh rơi tiếng hót vào trong mỗi bài…”. Niềm vui và nỗi buồn của cô giáo cũng chính là niềm vui và nỗi buồn của mỗi một học sinh: “Nhiều đêm nghĩ quẩn lo quanh/ Mỗi khi lên lớp điểm danh vắng nhiều”.

Hình như “cô giáo làng” ấy đã nói hộ tình cảm của chính tác giả, bởi nếu trái tim không rung động trước cuộc sống ngổn ngang quanh đời thì làm sao nhà giáo Nguyễn Hàn Chung có thể viết những câu thơ nao lòng đến thế. Bài thơ “Trước tiệm phục hồi ảnh cũ”, tác giả đóng vai trò người quan sát và kể lại câu chuyện thú vị về ba nhân vật: ông già đi phục hồi ảnh cũ, chàng thợ ảnh trẻ và chân dung tấm ảnh cô gái làng. Câu chuyện mở đầu thật đơn giản: “Cụ già tới tiệm phô tô/ Mang theo tấm ảnh một cô gái làng/ Chỉ còn là bóng thời gian/ Cụ mong lại thấy hồng nhan một người”. Cụ già ấy phục hồi lại hình ảnh cô gái ngày xưa, người mà ông từng yêu và mãi mãi yêu, thế nhưng trớ trêu thay với kỹ thuật hiện đại chàng thợ ảnh đã “mo-den” cô gái xưa theo mốt hiện đại: “Nhưng rồi đâu tấm váy quê/ Đâu rồi chiếc nón nghiêng che tóc người/ Một cô ăn ảnh tươi cười/ Rất xinh nhưng chẳng phải người trông mong”. Nỗi thất vọng của ông lão được tác giả khắc họa bẵng những hình ảnh có sức gợi: “Cụ ôm ảnh cũ vào lòng/ Dòng sông tưởng tiếc đầy trong mắt lòa/ Mặc chàng thợ ảnh lu loa/ Cụ rơi về phía sân ga đợi chiều”. Mỗi bài thơ của Nguyễn Hàn Chung là một câu chuyện xúc động, câu chuyện ấy chỉ có thể kể lại bằng thơ.

Đọc hết tập thơ gồm 58 bài của Nguyễn Hàn Chung tôi mới hiểu tại sao tác giả chọn nhan đề tập thơ là “Nói hộ phù du”, đơn giản là tác giả không viết về mình mà viết về người, tác giả không muốn đi sâu vào cái tôi nội tâm của mình để giãi bày tâm sự mà chủ yếu viết về những cảnh đời, những con người đang sống, đồng hành cùng tác giả hôm nay. Thế giới nhân vật mà tác giả nói hộ rất phong phú từ người con cõng bố, cô giáo làng, người mẹ núi, trẻ em khuyết tật, đến những người bạn cũ, những người phụ nữ… Các nhân vật ấy nhiều lúc rất vui: “Xa quê lâu lắm không về xứ/ Gặp bạn mừng reo đến vỡ trào/ Đấm, thụi, véo tai, cười nắc nẻ/ Y hồi đơm cá thuở mương ao” (Gặp bạn quê), có lúc buồn thê thiết khi hai vợ chồng đứng trước phiên tòa: “Đưa nhau ra chốn cửa công/ Mím môi rạch chữ vợ chồng làm hai/ Dễ rồi ai cứ đường ai/ Còn con trẻ liệu chia hai cách nào?”(Chia)…
Thơ Hàn Chung thường miêu tả hành động để tạo hình ảnh, do đó các câu thơ rất khỏe nhờ tác giả sử dụng nhiều động từ, tôi có cảm giác trái tim nhà thơ luôn ngọ nguậy để ngỏ lời chớ ít khi đằm thắm, du dương: “Nắng bứt dòng sông làm hai nửa/ Tôi khản tiếng gọi con đò góa bụa” (Một góc chiều biên giới), “Khoắn vào sông hỏi nhánh rong/ Dạt bao rồi mới chịu ròng đáy sâu” (Về Hội An), “Về quê gặp trẻ tát ao/ Thả xe tuột dép sấn vào bắt hôi” (Chỉ xin làm cỏ), “Dí vào giấc mơ đôi cánh chuồn chuồn/ la đà cỏ bồng bềnh mây trắng” (Điệu mưa)…

Tập thơ dày 88 trang, nội dung trình bày đẹp. Chỉ tiếc một điều, họa sĩ Nguyễn Tâm Văn không biết vô tình hay hữu ý đã trình bày bìa quá đơn giản: Tất cả các kiểu chữ trình bày ngoài bìa đều lấy từ font chữ có sẵn trong máy vi tính, không có một chữ nào thể hiện sự sáng tạo của họa sĩ. Đối với tập thơ, hình thức trình bày bìa đẹp – xấu không quyết định sự hay – dở của thơ, nhưng có hình thức và nội dung mới tạo nên một tập thơ và bạn đọc sành điệu biết rằng để tìm ra một chữ có tính sáng tạo thể hiện cho được tư tưởng, tình cảm của thơ đâu phải là công việc dễ dàng. “Trái tim ngọ nguậy ngỏ lời/ Rót đau xuống chén rượu mời cỏ xanh” (Thưa quê), với một trái tim như vậy thơ Nguyễn Hàn Chung đã nói với chúng ta nhiều điều về cái đẹp, nỗi đau và thân phận con người…
Nguyễn Nho Khiêm