Nguyễn Nho Khiêm
469786986_dd5e1fd8b4_t.jpg

Tôi ít được đọc thơ Đào Quang Đợi, bởi thơ anh viết dường như để cho riêng mình và cho bạn tâm giao. Thi thoảng anh mới gởi thơ đăng báo, bản thảo thơ anh thường đóng thành tập và có điều kiện thì in dành tặng bạn bè, người thân. Năm 2002 anh xuất bản tập “Hương Quê” khá dày dặn. Thơ in xong anh lại tiếp tục làm thơ, và tập hợp lại thành tập, lấy nhan đề “Quê mẹ”. Thơ trong suy nghĩ của Đào Quang Đợi, như một thú vui ở tuổi thất tuần; là nơi giãi bày và gói ghém một chút tình của lòng mình. Đọc tập thơ “Quê Mẹ” của anh, tôi chưa có điều kiện đi sâu bàn chuyện “giãi bày”, “gói ghém” của anh có khéo không, tôi chỉ xin nhặt ra những câu thơ thể hiện được tấm lòng của một con người đã qua bao thăng trầm của cuộc sống. Và hôm nay dưới bóng râm của mái tóc bạc phơ, Đào Quang Đợi đã mượn thơ để nói về tình yêu, về quê hương, về thành phố Đà Nẵng mà tác giả hằng yêu.

Viết về người bạn đời ngoài bảy mươi xuân của mình, tác giả khắc họa được hình ảnh vừa khái quát, vừa rất cụ thể trên gương mặt người mình yêu:

Nét khắc khổ hoa văn in gương mặt
Bảy mươi xuân tóc chuyển đổi màu sương
(Thương em)

Tác giả nhìn ra được nét đẹp của tuổi già? Không hẳn thế, tác giả nhìn thấy được nét đẹp của thời gian, nét đẹp của những năm tháng đắng cay, gian khổ bên nhau trong nghĩa tình chồng vợ. “Nét khắc khổ” trên gương mặt ấy với chiều dày của tình thương, đã hoá thành những “hoa văn” trang điểm trên gương mặt người phụ nữ đã chịu đựng nhiều nắng mưa, nhiều gian khó và muôn nỗi lo toan của một thời chiến tranh tàn khốc. Gương mặt ấy cũng là gương mặt của bao Bà Mẹ Việt Nam, hạnh phúc được sống trong “vị ngọt hoà bình”, chứng kiến sự đổi thay của đất trời, của thành phố mùa xuân.
Thơ Đào Quang Đợi mộc mạc, chân tình. Viết về cái không-thể-thiếu của một-nửa-bên-kia của anh, tưởng chẳng có gì mới, nhưng đọc lên vẫn tươi rói niềm cảm xúc:


“Gần mãi bên em
Thấy rất bình thường
Đôi khi hờn giận
Tưởng chẳng còn thương!

Xa nhau vài hôm
Đêm trường thao thức
Nhốt lạnh trong phòng
Da diết nhớ mong.
(Gần và xa)

Gần nhau hằng ngày, nảy sinh những chuyện tầm thường, nhiều khi “tưởng chẳng còn thương” được nữa. Nhưng khi xa nhau, ngay tức khắc không-gian-yêu-thương chất đầy kỷ niệm ùa về và thời-gian-thương-yêu dường như đã trói chặt hai tâm hồn không thể rời xa. “Nhốt lạnh trong phòng” – chỉ 4 từ thôi, đã thấu rõ nỗi cô đơn khi vắng bóng người thương, đã gói ghém tình và nghĩa cả hai tâm hồn đồng điệu trăm năm.

Không chỉ viết về mối tình già mà rất hạnh phúc của mình, đôi khi Đào Quang Đợi nhớ đến những mối tình ngày xưa thật thơ mộng và cũng lắm éo le:

Thế rồi, từ ấy chia tay
Sân trường vắng cánh phượng bay thuở nào
Thế rồi, đất thấp, trời cao
Bặt tăm đôi nẻo biết sao mà tìm!
Thế rồi, đành mãi lặng im
Qua thời khói lửa hết liền tuổi thơ
Sông mơ êm ả nhẹ trôi
Thuyền neo bến mộng lỡ bồi vấn vương.
(Thế rồi)

“Thế rồi, đến tận bây giờ / Đôi ta gặp lại bạc phơ mái đầu”. Sao tác giả lặp đi lặp lại từ “thế rồi” trong bài thơ? “Thế rồi” không phải là từ đệm vô tình nảy ra trong câu chuyên kể của bài thơ, mà chính là tiếng thở dài nuối tiếc của tác giả, khi nhớ lại mối tình xưa. Qua bể dâu, qua chiến tranh, bây giờ họ gặp nhau khi hai mái đầu đã bạc. Đọc cả bài thơ toát lên âm hưởng ngậm ngùi, nhưng Đẹp vô cùng.
Nét đẹp ấy, còn chứa trong hình ảnh “ngoảnh lại” trong mấy câu thơ dưới đây:

Mấy lần / Đò đã / Sang sông
Sao còn / Ngoảnh lại / Xa trông / Sững sờ…
Em ơi / Dứt gánh / Đường tơ
Trăng nghiêng / Đã vỡ / Rơi bờ / Sông Xanh.
(Tình)

Bài thơ thể lục bát tại sao tác giả đã xé nhỏ ra từng mảnh nhỏ, mỗi mảnh chỉ 2 từ, và trải dài trên trang giấy trắng tinh kia? Và cũng chính nhờ “xé nhỏ” từng chữ, từng câu như thế bài thơ tạo được nhịp điệu phù hợp tâm trạng của người viết: đau buồn, đổ vỡ, nặng nghĩa, trĩu tình…

Đào Quang Đợi làm thơ tình không nhiều bằng những chủ đề khác, nhưng lại hé mở một cõi lòng nên dễ đồng cảm với người đọc, sẻ chia cùng bè bạn về tình người, tình yêu. Hãy lắng nhìn đôi bàn tay đếm những sợi tóc đen còn lại trên mái đầu, và nhớ…

“Tuổi thơ anh để đâu em
Mà sao giờ lại khát thèm tuổi thơ?
Hay vì mái tóc bạc phơ
Sợi đen gần hết, ngẩn ngơ đếm hoài!”
(Luyến tiếc)

Tuổi già, người ta thường nghiền ngẫm cuộc đời thông qua những sợi tóc bạc. Đào Quang Đợi không nghiền ngẫm kiểu ấy mà ngược lại, nghiền ngẫm thời gian cuộc đời từ những sợi tóc đen ít ỏi còn lại sau những năm tháng đi qua. “Ngẩn ngơ đếm hoài!”, mà làm sao đếm hết được chuyện buồn vui trong một đời người, làm sao đếm được những kỷ niệm, những nỗi niềm “sau luỹ tre xanh” kia:

“Sau lũy tre xanh
Sáo diều bay bổng
Mấy chú mục đồng
Lăn thảm cỏ xanh

Sau lũy tre xanh
Lúa reo gấm vóc
Đàn cò sãi cánh
Ngọt ngào hương quê

Sau lũy tre xanh
Thoáng cô thôn nữ
Dáng buồn tư lự
Dõi mắt xa xăm…
(Sau lũy tre xanh)

Sau luỹ tre xanh là hồn quê, nơi ấy năm 1932 bên dòng sông Thu Bồn – Gò Nổi anh đã chào đời, lớn lên trong nỗi đau mất nước, và đã dâng trọn tuổi xuân của mình cho non sông thống nhất. Phía sau luỹ tre xanh ấy, còn là nơi nuôi dưỡng hồn thơ. Hy vọng thơ Đào Quang Đợi được bồi đắp thêm phù sa của dòng sông quê mẹ để sâu lắng hơn, mới lạ hơn trong Ý, trong Tứ, trong Tình của thơ.